| Lá thư Tân-Lập gởi các... |
|
chào bạn Thương Tân Lập một xứ đạo thuộcThi Xã La-Gì tỉnh B... |
| 12/10/09 07:28 More... |
| By Hoàng văn Định |
| THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ |
| Bai tren day la cua nhieu nguoi trao doi tren email, Nguyen ... |
| 09/10/09 03:54 More... |
| By Lenguyen |
| Lá thư Tân-Lập gởi các... |
| Nghe anh tiếp thị cũng thấy "rạo rực" lắm.Nhưn... |
| 12/10/09 07:29 More... |
| By NT6 Nguyễn văn Thương. |
| TẢN MẠN K5 |
| Nghe xong những lời của Anh , bỗng dưng em muốn k... |
| 08/10/09 02:21 More... |
| By NT6 Nguyễn văn Thương. |
| Lời cảm tạ của NT5 Ngu... |
|
THU CAM ON Cho toi goi loi chao than ai den cac anh em da lap nen trang... |
| 01/10/09 11:53 More... |
| By HOANG VAN DINH |
Sinh Hoạt
Tháng Tư, Bỏ Lại | Đoản Văn Nguyễn Trãi | ||||||||
| 20/02/2008 | ||||||||
|
Tháng Tư, Bỏ Lại
Khi chiếc GMC đặc nghẹt trên dưới 50 SVSQ với đầy đủ trang bị, chen chúc nhau, trong đó có tôi, chạy qua khỏi cổng trường uy nghi đang xây dở dang để chuẩn bị cho ngày mãn khoá NT4. Đi ngang BV Tiểu khu - lúc đó quanh tôi đã có rất nhiều đôi mắt đẫm lệ, vì biết rằng chúng tôi đã thực sự bỏ trường mà đi, và sẽ không có ngày trở lại. 6 giờ chiều ngày 1 tháng 4, ngày định mệnh hằng năm mà Trường Mẹ rất ái ngại, vì cứ mỗi năm vào ngày này, những tai nạn luôn ập đến, năm nào cũng vậy. Hôm đó lẽ ra là ngày khóa 4 phải trình tiểu luận mãn khóa. Mới đó chỉ đôi ba ngày trước, chúng tôi còn tập tễnh lễ mãn khóa, còn lo đào đắp những công sự phòng thủ quanh trường, còn quyết tâm, còn tất cả dũng khí của người SVSQ, của cả một thời thanh niên hăng hái đi làm nhiệm vụ gìn giữ quê hương. Thế mà, thôi rồi từ nay đã mất tất cả những sáng hứng sương, những chiều nhàn rỗi...chưa kịp từ giã những mối tình hoa đào thơ mộng, con đường tình dài hun hút mang tên Cộng Hòa, con dốc nghiêng nghiêng đi lên nhà thờ con gà, những nơi, những chốn, chỗ nào cũng như còn ẩn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm của hơn hai năm tự nguyện gởi thân làm dân ở nhờ xứ sương mù Dalat. Lại nữa, cũng chưa kịp nói lời khất nợ chị Nghĩa, chị Chúc Tôn Châu, nợ câu lạc bộ, giặt giũ... Vội vã, bất ngờ, đi, và bỏ lại tất cả. Bỏ lại một ngôi trường tuy không giống ai mà lại quá đỗi thân thương. Một quân trường hiện dịch, nhưng đặc biệt lại không trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, một quân trường hiếm hoi trên thế giới, là anh em song sinh trong cùng một nghịch cảnh đất nước phân đôi với trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Trung Hoa Quốc Gia. Một quân trường được thành lập trong hoàn cảnh lịch sử chính trị miền Nam hỗn độn, nên cũng trôi nổi theo tình hình chỉnh lý, đảo chánh, mới thành lập được đôi ba năm lại bị một phe chính quyền quân sự khác lên thay hăm he đóng cửa. Một quân trường phải lãnh nhiệm vụ ôm đồm đào tạo lớp SVSQ hiện dịch, huấn luyện tất cả SQ CTCT của toàn quân lực VNCH, mà lại thiếu thốn mọi mặt, chấp chỗ này, vá chỗ kia, cho đủ no, co vừa ấm - như trong một gia đình nghèo mà lại có quá đông anh em. Cơ sở trường ốc ở đồi 4648 chỉ là vách ván, SVSQ phải chịu đựng cái rét căm căm của vùng cao nguyên từ lúc vào trường cho đến ngày mãn khóa. Mùa quân sự cũng là thời gian khổ nhất của SVSQ chúng tôi, vì phải lội bộ rất xa từ trường sang trường Vỏ Bị hàng ngày. Thậm chí, ở trường cũng không có hệ thống nước nóng để tắm, mùa đông Dalat lạnh cắt da, SVSQ phải ra phố tắm ở các nhà tắm tư nhân, tuần nào xui xẻo bị phạt cúp phố thì kể như khỏi tắm! Ngay đến một ban quân nhạc cũng không có (trong khi một Sư đoàn cũng đã có ban quân nhạc rồi), một bộ nhạc cụ cũng không có. Chỉ huy trưởng phải ra lệnh tiết kiệm khẩu phần ăn của SVSQ để nuôi heo, chờ heo lớn lấy tiền sắm bộ nhạc cụ cho SVSQ chơi văn nghệ. Thật là thảm thương và hi hữu. Vậy mà, khi đi thi đua văn nghệ thì lại luôn chiếm giải khôi nguyên toàn thị xã Dalat và cả quân khu 2! Nhắc lại chuyện cũ để thấy chỗ đứng hẩm hiu của một quân trường mang danh hiện dịch như chúng tôi, chỉ thỉnh thoảng nghe đâu có nhận được một ít yểm trợ từ trường Đại học CTCT THQG và chính phủ Đài Loan. Ngoài ra, nhìn chung, hình như người Hoa kỳ hầu như không có tài khoản nào dành để nuôi dưỡng và phát triển quân trường này như đã dành cho các quân trường Hải, Lục, Không quân khác, phần vì trong cơ cấu tổ chức quân đội Hoa Kỳ không có ngành CTCT làm chủ yếu cho quân đội họ, chỉ có tổ chức tâm lý chiến dân sự vụ mà thôi. Hoặc theo sự suy đoán khác, người Hoa Kỳ không muốn thấy có những bộ óc chính trị trong guồng máy quân đội miền Nam lúc bấy giờ, họ chỉ muốn có một quân đội thuần túy tác chiến, dễ điều động theo ý muốn của họ theo từng thời điểm chính trị quốc tế. Chỉ tiếc một điều, các cấp lãnh đạo miền Nam thời đó đã lơ là, không biết tích cốc phòng cơ và đem con bỏ chợ cả một tầng lớp cán bộ đầy tâm huyết với lý tưởng quốc gia mà ĐHCTCT đã nhọc công đào tạo, đó cũng là một trong những lý do đưa đến hậu quả sau cùng là ngày 30-4 tất nhiên xảy đến cảnh sẩy đàn tan nghé. Và, ở thời gian cuối cùng của cuộc chiến, khóa 4 chúng tôi lại được Bộ TTM giao phó một nhiệm vụ hết sức nặng nề: Về miền Tây trong công tác cải tiến và kiện toàn lực lượng an ninh lãnh thổ 16 tiểu khu thuộc QK 4. Chiến dịch này khá đặc biệt vì có tính cách quan yếu quyết định, không giống như các chiến dịch trước đây, được phân phối đồng đều cho tất cả SVSQ các quân trường tham dự, lần này, chỉ có chúng tôi, len lỏi vào nằm trong từng đơn vị đại đội, sinh hoạt hành quân chung như một chiến sĩ cơ hữu của đơn vị, nguy hiểm do phía địch cũng có, mà do sự trả thù về phía ta cũng rất nhiều, ròng rã gần suốt sáu tháng đến cuối năm 1974, mục đích chính là để điều tra tệ nạn lính ma lính kiểng, báo cáo chính xác từng trường hợp về QK, Tổng cục CTCT, bộ TTM đệ trình Tổng Thống. Sở dĩ có công tác đặc biệt này là do những tháng cuối cùng của cuộc chiến, tình hình quân sự đã trở nên tồi tệ, VNCH xin thêm quân viện, chính phủ Hoa Kỳ đòi hỏi VNCH phải chứng tỏ quân đội đã được lành mạnh hóa, để nguồn viện trợ phải được sử dụng hữu hiệu hơn, mà thí điểm cụ thể là QK 4, nếu công tác cải tiến này thành công, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho chính quyền miền Nam tiếp tục cuộc chiến. Khóa chúng tôi sắp tốt nghiệp, lại được cấp trên chiếu cố, đưa đi làm công tác chữa lửa cho một căn nhà tham nhũng mục nát sắp cháy rụi. Để rồi , nghĩ cho cùng - về thành tích thì tuy chúng tôi đã đạt được kết quả tạm thời có vẽ khả quan: Tư lệnh QK, và hàng loạt giới chức lớn nhỏ đều rơi rụng, nhưng cuối cùng hơn hai trăm SVSQ chúng tôi cũng chỉ là nạn nhân của cơn lửa phũ phàng kia, một số đã tử thương nơi chiến trường miền Tây, có xác bị chặt nát phanh thây chỉ vì trên quân phục có mang phù hiệu CTCT, một số bị thương - trở về Trường Mẹ với mớ kinh nghiệm máu xương chiến trường, và lý tưởng binh nghiệp đã manh nha suy sụp qua những thực tế bẽ bàng ngoài đơn vị, đi phố lủng lẳng huy chương xanh đỏ trên ngực, cứ bị quân cảnh nghi ngờ lôi thôi hỏi giấy - chỉ biết mỉm cười tự hào pha cay đắng... Trở lại tình hình tuần lễ cuối cùng tháng 3-75, trong lúc khóa 4 chúng tôi hàng ngày vẫn duy trì tập dượt mãn khóa, đào thêm hầm hố phòng thủ, trước những tin tức dồn dập vô cùng đen tối ở QK 1 rồi lan đến QK 2. Mỗi tối, cùng bạn bè vây quanh tấm bản đồ dân sự, chụm đầu nghe tin chiến sự từ đài BBC (phương tiện truyền thông nhanh nhất lúc đó), rồi lấy bút chấm đỏ những tỉnh, thành phố lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Bất ngờ này lại đến bất ngờ khác, quá nhanh không thể hiểu nỗi. Nghe nói phong phanh hôm 30-3, Thiếu tướng Lâm quang Thơ, Đại tá Nguyễn hợp Đoàn và Đại tá CHT đã họp bàn kế hoạch di tản. Đến 31-3 thì Qui Nhơn cũng đã bị xâm nhập. Tấm bản đồ của chúng tôi bấy giờ đã dầy đặc những chấm đỏ, tựa như những cánh phượng tơi tả đang rụng nằm buồn bã trên thềm nhà. Dalat, Lâm Đồng, Tuyên Đức như đang lọt vào khoảng trống chới với. SVSQ đã được trang bị thêm đạn dược, lương khô và phân phối đi phòng thủ những nơi quan yếu trong thành phố. Đến chạng vạng tối 31-3, khi chúng tôi đang trấn đóng kho đạn tiểu khu thì từng đoàn GMC hùng hậu có kéo cả trọng pháo chở đầy SVSQ Võ Bị đội nón sắt ngụy trang hoa lá đang di chuyển về hướng Phan Rang. Ban đầu cứ ngỡ là đơn vị bạn đến một điểm phòng thủ khác, nhưng rõ ràng là họ đang đi về hướng Đơn Dương, nơi không có một cứ điểm quan trọng nào. Lúc đó, ở cương vị nhỏ nhoi của một SVSQ, chúng tôi chưa hề hay biết là Dalat đã bắt đầu di tản, và đơn vị đi đầu là Trường Võ Bị, chỉ huy trưởng là Thiếu tướng Thơ, cũng là tư lệnh đoàn di tản. Trong một cuộc hành quân bình thường, đơn vị trinh sát đi đầu bao giờ cũng hứng chịu nhiều nguy hiểm, nhưng trong một cuộc lui binh, hình như kết quả có thể được hiểu ngược lại. Vậy mà bây giờ ở đây hàng năm, vào mỗi dịp 30-4 về, khi nhắc lại biến cố Dalat di tản, báo chí lại thường hay trích dẫn bản tường thuật của đài BBC như thế này (trích nguyên văn): Ngày 28-3-75 lúc 10 giờ đêm, Dalat vừa mất. Lâm Đồng như ốc đảo giữa rừng. Đài BBC nói đến các hình ảnh đẹp của SVSQ Võ Bị Dalat. Họ đã làm trắc diện về đoạn hậu cho quân dân ở đây xuôi xuống... Nha Trang! Đoàn di tản này tương đối có kỷ luật và tổ chức chặt chẽ nhất. (LNV: Ngày 28-3 Dalat làm gì đã mất?). Đơn vị bị phân bố bọc hậu chính là Đại học CTCT chúng tôi. Đoàn di tản vẫn lũ lượt, vội vã nối đuôi nhau người và người như ngày hội, chỉ khác là mọi người ai cũng lộ vẻ hốt hoảng khóc la, trong đó gồm cả thành phần bán quân sự, hành chính và dân chúng. Chúng tôi chỉ biết đứng nhìn và ghì chặt tay súng, vẫn tiếp tục bảo vệ Dalat thân yêu và chờ lệnh. SVSQ ba khóa 4, 5, 6 đang ngồi chờ lệnh rút quân Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu. Cố lên, cố lên, dù nhọc nhằn... Vào khoảng 4 giờ chiều, khi mọi sự phân nhiệm đã xong, Bộ chỉ huy cũng vừa kết thúc buổi họp cuối cùng nơi Trường Mẹ. Tôi chụp vội vài tấm hình lúc SVSQ ba khóa 4, 5, 6 đang ngồi chờ lệnh rút quân. Tôi có ngờ đâu những tấm hình duy nhất trong phút giây ngắn ngủi đó nay đã đương nhiên đi vào lịch sử Trường Mẹ, là gia tài quí giá của những người như chúng tôi, bao giờ cũng trân quí kỷ niệm hào hùng một thời trai trẻ. Rồi lệnh chuyển quân bắt đầu cho các đơn vị còn hiện diện tại trường. Lên đường, không còn kịp thì giờ để lưu luyến gì nữa, mọi người nhanh chóng ba lô lên vai, súng ống cầm tay, điểm danh lần chót, thi hành! Trời Dalat buổi chiều đổ xuống thấp nhưng có lẽ lúc này không ai còn nghe cái cảm giác lành lạnh quen thuộc hàng ngày, bởi xúc động căm hờn hay vì hơi nóng từ những đêm cháy bốc cao khắp nơi trong thị xã, nhất là những tiếng nổ rất lớn văng tung loảng xoảng từ trường Võ Bị, mấy giờ trước đó sau khi trường này đã rút toàn bộ, chính trung úy Ngô L. trưởng khoa chất nổ đã nhận từ tay vị chỉ huy trưởng toàn bộ xâu chìa khóa của nhà thí nghiệm nặng, thư viện và những nơi quan yếu với khẩu lệnh: phá hủy toàn bộ. Nghe nói nhà thí nghiệm nặng vì xây dựng quá kiên cố nên chỉ hư hại một phần mà thôi. Riêng toàn bộ cơ sở của hai đồi 4648 (gần trường Bùi thị Xuân) và đồi 4650 (Chi Lăng) của ĐHCTCT, vì không có những kiến thiết hay tài sản quan trọng nào nên vẫn còn y nguyên không bị phá hủy, ngoại trừ những tài liệu, văn kiện quân sự mật.
Khi đến Phan Rang, thành phố này đã thực sự mất kiểm soát, náo loạn khắp nơi. Đoàn xe chúng tôi đã thật khó khăn khi chen chúc vượt qua thị trấn này. Nhiều thường dân, binh sĩ xin theo đoàn không được, có người làm hoảng. Chính tại nơi đây, lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong đời cận vệ, trung úy Thạch minh Lợi đã có dịp thi thố khả năng của mình, khi Đại tá CHT suýt bị làm hỗn. Có một điều ai nấy cũng đều ngưỡng mộ người chỉ huy trưởng khả kính này, trong mọi thời điểm suốt những chặng đường dù nguy hiểm đến đâu, ông cũng vẫn theo sát cả đoàn để ban hành những khẩu lệnh kịp thời, kể cả những khi cùng lội bộ, bất chấp an ninh của cá nhân ông. Điều thú vị hơn, tình cờ chúng tôi nhận thấy đại úy trưởng khoa truyền tin Nguyễn thanh Châu mang lon thiếu tá mới tinh, hỏi ra thì mới hay ông mới được thăng chức đúng vào ngày 1 tháng 4, chiếc bông mai bạc mà ông đã mơ ước từ hơn mười năm nay. Theo toán trinh sát kể lại, khi họ đến Phan Rang trước cả đoàn di tản của trường, nghe ngóng tin tức thì đường Phan Thiết lúc đó còn đi được, nên tất cả được lệnh trưởng toán một lần nữa lại tự túc thuê xe be vào điểm hẹn ở nhà một người quen của đại úy Duyến ở gần bãi biển, một toán khoảng mười người vào được điểm hẹn lúc trời sập tối, được chủ nhà khoản đãi bữa cơm gà luộc thịnh soạn đầy ắp tình người. Sau đó thì có lệnh Tiểu khu Trưởng Phan Thiết cho bắn pháo, ngăn chận không để mọi thành phần di tản vào thành phố, do đó đoàn di tản phải quay ngược trở về Phan Rí, toán trinh sát không bắt tay được với Trường Mẹ, và kể như họ đã hoàn toàn chia tay với Trường Mẹ từ lúc đó. Một ngày sau, họ vào được Bình Tuy, chỉ có quân nhân mới được phép vào sau khi đã bị giải giới, bỏ lại từng đống súng ngổn ngang dọc hai bên đường. Trường Võ Bị đã có mặt ở đó từ lâu, riêng cả toán trinh sát của ĐHCTCT sau đó được đưa về Biên Hòa bằng phương tiện vận tải cơ C-130.
“Đại tá Nguyễn quốc Quỳnh mang toàn bộ Trường ĐHCTCT Dalat về đến Vũng Tàu bình yên...”
“Sao, gia đình đã chuẩn bị để đi xong cả rồi hả chị?” Tôi bắt được giọng thảng thốt ngay trong máy: “Hả, em nói gì, đi đâu, đi đâu?”. Tôi biết là chị chưa hay biết gì cả, nên vội cúp máy. Có ngờ đâu, tôi đã vĩnh viễn nợ chị một tiếng trả lời từ buổi đó, chị đã kiệt lực về tinh thần lẫn tật bệnh, đã nằm xuống chỉ vài ba năm sau khi ông N. đi tù, bỏ lại bốn cháu nhỏ bơ vơ thật tội nghiệp. Mãi khi đến Phan Rang, gặp trung úy Tâm ở khối CTCT, hỏi ra tôi mới biết ông N. đã không có mặt trong đoàn di tản. Rồi từ đó tôi bặt luôn tin tức về ông. Mãi đến khi ra tù, sau này có dịp thăm lại gia đình ông, được nghe kể lại từ mẹ ông, bà cụ tính đến hôm nay đã tròn 100 tuổi, vẫn còn sống tại Việt Nam. Tôi mới được biết là đúng buổi chiều 1-4, ông N. không có đi họp, nên ông không hay biết gì cho đến non một giờ trước khi đoàn di tản khởi động, khi đó ông mới hay tin di tản và ngỏ ý đòi lại chiếc xe Jeep mà ông đã cho người bạn Trưởng khối mượn sử dụng (vì nhà ông ở ngang bệnh viện Tiểu khu sát gần trường, ông đi bộ đến trường hàng ngày), lời yêu cầu đó không được đáp ứng, gia đình ông gần 20 người có cả bà cụ, đàn bà và trẻ nít. Ông rất lo ngại cho viễn ảnh thảm hại trên tỉnh lộ 7B vừa xảy ra, nên cuối cùng cả gia đình ông đành chấp nhận ở lại. Đêm đó, những tiếng nổ, tro bụi và lửa cháy từ kho xăng, kho đạn và từ trường Võ Bị khiến gạch đá văng tứ tung, mọi cơ sở chung quanh đều bị bể kiến hư hại nặng. Cả nhà ông quây quần cầu nguyện trong căn phòng phía trước nhà nơi dành thờ Phật, kỳ diệu thay chỉ duy nhất căn phòng này là còn an toàn nguyên vẹn, không bị hư hại gì cả. Khi đoàn di tản đã rời khỏi thành phố Dalat thì nhiều điều bất ổn bắt đầu xảy ra, tù hình sự tự động được tự do, trốn ra phố cướp bóc, kể cả dân chúng cũng chạy vào các cơ sở chính quyền để hôi của, nghe nói họ cũng có vào trường ĐHCTCT và đã có một vài thường dân bị thương. Ba ngày sau, thành phố trở nên tê liệt trong mọi sinh hoạt, và không còn ai có thẩm quyền điều hành điện, nước v.v... khiến thân hào nhân sĩ còn ở lại phải ra tận Nha Trang để mời chính quyền mới vào điều hành hoạt động thành phố. Lúc này, ông N. là sĩ quan chế độ cũ có cấp bậc cao nhất còn ở lại, nên dĩ nhiên ông bị đặc biệt chú ý và theo dõi, họ đưa ngay ông vào trường ĐHCTCT để bàn giao cơ sở Trường cho đại diện chính quyền mới là một thượng tá CS, rồi hôm sau đó ông bị xe bộ đội chở đi luôn cho đến 17 năm sau mới được thả về. Nếu ông “có công với CS” như vài tin đồn thì có lẽ ông đã không phải chịu nổi bất hạnh là người trở về sau cùng trong tất cả sĩ quan cao cấp của ĐHCTCT, sau cả vị chỉ huy trưởng của chúng ta. Tháng 7 năm 2001 vừa qua, cựu Trung tá Nguyễn thanh Nhung, nguyên Trưởng khối Khóa sinh đã một thời gần gũi với SVSQ các khóa, ở vào tuổi thất tuần, ông đã gác bỏ tất cả những gièm pha, eo xèo nhơn thế, quyết định khoác áo cà sa để tìm về chính niệm. Sống một mình trong căn apartment nhỏ hẹp ở một thành phố miền Đông Hoa kỳ với tương rau hàng ngày, âm thầm, không tiếp xúc với hầu hết mọi người, tuy nhiên ông cũng đã đặc biệt nhắn lời thăm hỏi những người có cùng một quá khứ cũ, đã một thời khắng khít bên nhau.
Sau đó, vì tình hình quân sự QK 3 đã trở nên quá xấu, Cộng quân đang tiến sát vòng đai Sài gòn Biên Hàa, trường ĐHCTCT được lệnh di chuyển về Sài gòn. Ngày 27-4, một số SVSQ khóa 5, 6 đang đi phép, số còn lại trong doanh trại TĐ 30 CTCT khoảng 60, 70 người, đại úy Nguyễn mạnh Vỹ nhận được lệnh, chờ Đại tá CHT xin phương tiện GMC để chở số SVSQ còn đang trong trại và toàn bộ vũ khí, quân trang của trường về TĐ 50 CTCT. Ngày 28-4, trên đường đi đến ga Bình Triệu, đoàn xe bị quân cảnh chận lại không cho vào, là do Biệt khu Thủ đô nghiêm cấm tất cả các đơn vị quân đội vào thủ đô Sài gòn trong lúc này. Đại úy Vỹ phải dùng máy liên lạc về Tổng cục CTCT và đã được Trung tướng Trần văn Trung can thiệp để trường ĐHCTCT được vào Sài gòn. Đến ngày 29-4, SVSQ được lệnh canh giữ cơ sở MACV của người Hoa Kỳ vừa ra đi bỏ lại, được một buổi thì tình hình dân chúng vào hôi của quá hỗn độn, chờ quân cảnh đến để can thiệp mà chẳng thấy ai cả, cuối cùng, Đại tá CHT ra lệnh bỏ ngỏ MACV. Lúc này ngoài SVSQ đang đi phép, thành phần còn lại vẫn nghiêm chỉnh chấp hành lệnh canh gác, trong số sĩ quan của Trường chỉ còn lại Đại úy Đào ngọc Tố, Nguyễn mậu Lộc, Nguyễn mạnh Vỹ và thiếu tá Nguyễn văn Quế, khóa 19 VB nguyên Tiểu đoàn trưởng SVSQ, mới rời đơn từ tiểu khu Long Khánh chạy về đây. Sáng sớm ngày 30 tháng 4, Cộng quân pháo dồn dập vào xung quanh khu vực TĐ 50 CTCT, đài phát thanh Quốc Gia, NT1 Nguyễn mậu Lộc bị thương trong vai ở giờ thứ 25! Lại có thêm hai NT1 Quách Dược Thanh và Nguyễn văn Sang vào, hỏi có gì cho SVSQ ăn sáng không? Đại tá CHT liền viết giấy tay cho người đem qua cục Tâm lý chiến xin khẩu phần lương khô của Trung Hoa Quốc Gia về. Đó là bửa điểm tâm cuối cùng của Trường Mẹ, đó là lần cuối cùng NT1 Quách Dược Thanh và Nguyễn văn Sang gặp lại anh em, về sau đó niên trưởng QDT bị bức tử ở trại Vườn Đào, còn niên trưởng NVS trốn trại tù CS bị bắn chết. Khi mọi người vừa ăn sáng xong, lúc đó vào khoảng hơn 10 giờ sáng, bầu trời bỗng vần vũ mây đen trải cơn mưa tuy chỉ lớt phớt nhưng cũng đủ thấm và quặn đau từng con tim của mỗi người chiến sĩ cũng như toàn dân miền nam Tự Do. Sau lệnh buông súng đầu hàng của ông Dương văn Minh, Đại tá Chỉ huy trưởng qua vẻ mặt xúc động nhưng vẫn điềm tĩnh, chậm rãi ban khẩu lệnh đau đớn cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp 26 năm dài của ông với ban tham mưu: “Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!” Chỉ mấy tiếng đó thôi, tuy ngắn ngủi, khô khan của ông cũng đủ làm cho không khí đang tuyệt đối yên lặng - không gian như bật úa vỡ ra, tan tóc.
|
||||||||
| < Trước |
|---|