Nguyen Trai

Ý Kiến của Bạn Đọc

Lá thư Tân-Lập gởi các...
chào bạn Thương
Tân Lập một xứ đạo thuộcThi Xã La-Gì tỉnh B...
12/10/09 07:28 More...
By Hoàng văn Định

THIỀN SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ
Bai tren day la cua nhieu nguoi trao doi tren email, Nguyen ...
09/10/09 03:54 More...
By Lenguyen

Lá thư Tân-Lập gởi các...
Nghe anh tiếp thị cũng thấy "rạo rực" lắm.Nhưn...
12/10/09 07:29 More...
By NT6 Nguyễn văn Thương.

TẢN MẠN K5
Nghe xong những lời của Anh , bỗng dưng em muốn k...
08/10/09 02:21 More...
By NT6 Nguyễn văn Thương.

Lời cảm tạ của NT5 Ngu...
THU CAM ON
Cho toi goi loi chao than ai den cac anh em da lap nen trang...
01/10/09 11:53 More...
By HOANG VAN DINH


Bạn là khách thứ
Trang Nhất arrow Sinh Hoạt arrow Tháng Tư, Bỏ Lại
Đoản Văn Nguyễn Trãi
20/02/2008

Tháng Tư, Bỏ Lại
Thanh Sơn

Trong một bữa ăn sáng vào giữa tháng hai năm ngoái nhân dịp cựu Đại tá Chỉ huy Trưởng về thăm lại các môn đệ cũ tại Orange County, ông ngỏ ý muốn viết về cuộc di tản vào đầu tháng 4-75, trên cương vị của một người trách nhiệm chỉ huy để mọi người có ít nhiều liên hệ đến Trường Mẹ cùng hồi tưởng. Ai nấy cũng đều hoan nghênh ý kiến này. Ông còn chỉ thị cho tôi cũng nên dành chút ít thi giờ để viết về chủ đề đó, dưới cái nhìn của một SVSQ để cùng đối chiếu lại xem có những điểm khác nhau và giống nhau ra sao. Ông đã ưu ái chỉ thị, thì tôi chỉ có nước thi hành mà thôi do đó có phần hơi chậm chạp, lần lừa. Mới đây, khi nghe tin Ông tuy vừa qua cơn stroke nhẹ mà vẫn run run mấy hàng gởi đến cho Ức Trai bài viết như Ông đã hứa, tôi mới lật đật moi lại trong trí nhớ đã tròm trèm ngót gần 30 năm! Bài viết này không khỏicó những chi tiết sơ suất vì trí nhớ đã bị bào mòn, nhưng chắc chắn là những sự thật được ghi lại qua những lần tiếp xúc, kể cho nhau nghe về kỷ niệm đau thương không thể nào quên này. Xin cám ơn thân mẫu cựu Trung tá Nguyễn thanh Nhung, Thiếu tá Nguyễn thanh Châu, NT1 Nguyễn mạnh Vỹ, Tr/u Thạch minh Lợi, các NT4 Phạm đình Bằng, Nguyễn gia Hưng, Dương thu Sơn, Lê đức Ái, Phạm đức Thọ và một vài bạn tù cựu huấn luyện viên Võ Bị, cũng như lác đác đâu đó, một vài dữ kiện đã được nghe qua.

Khi chiếc GMC đặc nghẹt trên dưới 50 SVSQ với đầy đủ trang bị, chen chúc nhau, trong đó có tôi, chạy qua khỏi cổng trường uy nghi đang xây dở dang để chuẩn bị cho ngày mãn khoá NT4. Đi ngang BV Tiểu khu - lúc đó quanh tôi đã có rất nhiều đôi mắt đẫm lệ, vì biết rằng chúng tôi đã thực sự bỏ trường mà đi, và sẽ không có ngày trở lại. 6 giờ chiều ngày 1 tháng 4, ngày định mệnh hằng năm mà Trường Mẹ rất ái ngại, vì cứ mỗi năm vào ngày này, những tai nạn luôn ập đến, năm nào cũng vậy. Hôm đó lẽ ra là ngày khóa 4 phải trình tiểu luận mãn khóa. Mới đó chỉ đôi ba ngày trước, chúng tôi còn tập tễnh lễ mãn khóa, còn lo đào đắp những công sự phòng thủ quanh trường, còn quyết tâm, còn tất cả dũng khí của người SVSQ, của cả một thời thanh niên hăng hái đi làm nhiệm vụ gìn giữ quê hương. Thế mà, thôi rồi từ nay đã mất tất cả những sáng hứng sương, những chiều nhàn rỗi...chưa kịp từ giã những mối tình hoa đào thơ mộng, con đường tình dài hun hút mang tên Cộng Hòa, con dốc nghiêng nghiêng đi lên nhà thờ con gà, những nơi, những chốn, chỗ nào cũng như còn ẩn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm của hơn hai năm tự nguyện gởi thân làm dân ở nhờ xứ sương mù Dalat. Lại nữa, cũng chưa kịp nói lời khất nợ chị Nghĩa, chị Chúc Tôn Châu, nợ câu lạc bộ, giặt giũ... Vội vã, bất ngờ, đi, và bỏ lại tất cả. Bỏ lại một ngôi trường tuy không giống ai mà lại quá đỗi thân thương. Một quân trường hiện dịch, nhưng đặc biệt lại không trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn, một quân trường hiếm hoi trên thế giới, là anh em song sinh trong cùng một nghịch cảnh đất nước phân đôi với trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Trung Hoa Quốc Gia. Một quân trường được thành lập trong hoàn cảnh lịch sử chính trị miền Nam hỗn độn, nên cũng trôi nổi theo tình hình chỉnh lý, đảo chánh, mới thành lập được đôi ba năm lại bị một phe chính quyền quân sự khác lên thay hăm he đóng cửa. Một quân trường phải lãnh nhiệm vụ ôm đồm đào tạo lớp SVSQ hiện dịch, huấn luyện tất cả SQ CTCT của toàn quân lực VNCH, mà lại thiếu thốn mọi mặt, chấp chỗ này, vá chỗ kia, cho đủ no, co vừa ấm - như trong một gia đình nghèo mà lại có quá đông anh em. Cơ sở trường ốc ở đồi 4648 chỉ là vách ván, SVSQ phải chịu đựng cái rét căm căm của vùng cao nguyên từ lúc vào trường cho đến ngày mãn khóa. Mùa quân sự cũng là thời gian khổ nhất của SVSQ chúng tôi, vì phải lội bộ rất xa từ trường sang trường Vỏ Bị hàng ngày. Thậm chí, ở trường cũng không có hệ thống nước nóng để tắm, mùa đông Dalat lạnh cắt da, SVSQ phải ra phố tắm ở các nhà tắm tư nhân, tuần nào xui xẻo bị phạt cúp phố thì kể như khỏi tắm! Ngay đến một ban quân nhạc cũng không có (trong khi một Sư đoàn cũng đã có ban quân nhạc rồi), một bộ nhạc cụ cũng không có. Chỉ huy trưởng phải ra lệnh tiết kiệm khẩu phần ăn của SVSQ để nuôi heo, chờ heo lớn lấy tiền sắm bộ nhạc cụ cho SVSQ chơi văn nghệ. Thật là thảm thương và hi hữu. Vậy mà, khi đi thi đua văn nghệ thì lại luôn chiếm giải khôi nguyên toàn thị xã Dalat và cả quân khu 2! Nhắc lại chuyện cũ để thấy chỗ đứng hẩm hiu của một quân trường mang danh hiện dịch như chúng tôi, chỉ thỉnh thoảng nghe đâu có nhận được một ít yểm trợ từ trường Đại học CTCT THQG và chính phủ Đài Loan. Ngoài ra, nhìn chung, hình như người Hoa kỳ hầu như không có tài khoản nào dành để nuôi dưỡng và phát triển quân trường này như đã dành cho các quân trường Hải, Lục, Không quân khác, phần vì trong cơ cấu tổ chức quân đội Hoa Kỳ không có ngành CTCT làm chủ yếu cho quân đội họ, chỉ có tổ chức tâm lý chiến dân sự vụ mà thôi. Hoặc theo sự suy đoán khác, người Hoa Kỳ không muốn thấy có những bộ óc chính trị trong guồng máy quân đội miền Nam lúc bấy giờ, họ chỉ muốn có một quân đội thuần túy tác chiến, dễ điều động theo ý muốn của họ theo từng thời điểm chính trị quốc tế. Chỉ tiếc một điều, các cấp lãnh đạo miền Nam thời đó đã lơ là, không biết tích cốc phòng cơ và đem con bỏ chợ cả một tầng lớp cán bộ đầy tâm huyết với lý tưởng quốc gia mà ĐHCTCT đã nhọc công đào tạo, đó cũng là một trong những lý do đưa đến hậu quả sau cùng là ngày 30-4 tất nhiên xảy đến cảnh sẩy đàn tan nghé. Và, ở thời gian cuối cùng của cuộc chiến, khóa 4 chúng tôi lại được Bộ TTM giao phó một nhiệm vụ hết sức nặng nề: Về miền Tây trong công tác cải tiến và kiện toàn lực lượng an ninh lãnh thổ 16 tiểu khu thuộc QK 4. Chiến dịch này khá đặc biệt vì có tính cách quan yếu quyết định, không giống như các chiến dịch trước đây, được phân phối đồng đều cho tất cả SVSQ các quân trường tham dự, lần này, chỉ có chúng tôi, len lỏi vào nằm trong từng đơn vị đại đội, sinh hoạt hành quân chung như một chiến sĩ cơ hữu của đơn vị, nguy hiểm do phía địch cũng có, mà do sự trả thù về phía ta cũng rất nhiều, ròng rã gần suốt sáu tháng đến cuối năm 1974, mục đích chính là để điều tra tệ nạn lính ma lính kiểng, báo cáo chính xác từng trường hợp về QK, Tổng cục CTCT, bộ TTM đệ trình Tổng Thống. Sở dĩ có công tác đặc biệt này là do những tháng cuối cùng của cuộc chiến, tình hình quân sự đã trở nên tồi tệ, VNCH xin thêm quân viện, chính phủ Hoa Kỳ đòi hỏi VNCH phải chứng tỏ quân đội đã được lành mạnh hóa, để nguồn viện trợ phải được sử dụng hữu hiệu hơn, mà thí điểm cụ thể là QK 4, nếu công tác cải tiến này thành công, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho chính quyền miền Nam tiếp tục cuộc chiến. Khóa chúng tôi sắp tốt nghiệp, lại được cấp trên chiếu cố, đưa đi làm công tác chữa lửa cho một căn nhà tham nhũng mục nát sắp cháy rụi. Để rồi , nghĩ cho cùng - về thành tích thì tuy chúng tôi đã đạt được kết quả tạm thời có vẽ khả quan: Tư lệnh QK, và hàng loạt giới chức lớn nhỏ đều rơi rụng, nhưng cuối cùng hơn hai trăm SVSQ chúng tôi cũng chỉ là nạn nhân của cơn lửa phũ phàng kia, một số đã tử thương nơi chiến trường miền Tây, có xác bị chặt nát phanh thây chỉ vì trên quân phục có mang phù hiệu CTCT, một số bị thương - trở về Trường Mẹ với mớ kinh nghiệm máu xương chiến trường, và lý tưởng binh nghiệp đã manh nha suy sụp qua những thực tế bẽ bàng ngoài đơn vị, đi phố lủng lẳng huy chương xanh đỏ trên ngực, cứ bị quân cảnh nghi ngờ lôi thôi hỏi giấy - chỉ biết mỉm cười tự hào pha cay đắng...

Trở lại tình hình tuần lễ cuối cùng tháng 3-75, trong lúc khóa 4 chúng tôi hàng ngày vẫn duy trì tập dượt mãn khóa, đào thêm hầm hố phòng thủ, trước những tin tức dồn dập vô cùng đen tối ở QK 1 rồi lan đến QK 2. Mỗi tối, cùng bạn bè vây quanh tấm bản đồ dân sự, chụm đầu nghe tin chiến sự từ đài BBC (phương tiện truyền thông nhanh nhất lúc đó), rồi lấy bút chấm đỏ những tỉnh, thành phố lần lượt rơi vào tay Cộng quân. Bất ngờ này lại đến bất ngờ khác, quá nhanh không thể hiểu nỗi. Nghe nói phong phanh hôm 30-3, Thiếu tướng Lâm quang Thơ, Đại tá Nguyễn hợp Đoàn và Đại tá CHT đã họp bàn kế hoạch di tản. Đến 31-3 thì Qui Nhơn cũng đã bị xâm nhập. Tấm bản đồ của chúng tôi bấy giờ đã dầy đặc những chấm đỏ, tựa như những cánh phượng tơi tả đang rụng nằm buồn bã trên thềm nhà. Dalat, Lâm Đồng, Tuyên Đức như đang lọt vào khoảng trống chới với. SVSQ đã được trang bị thêm đạn dược, lương khô và phân phối đi phòng thủ những nơi quan yếu trong thành phố. Đến chạng vạng tối 31-3, khi chúng tôi đang trấn đóng kho đạn tiểu khu thì từng đoàn GMC hùng hậu có kéo cả trọng pháo chở đầy SVSQ Võ Bị đội nón sắt ngụy trang hoa lá đang di chuyển về hướng Phan Rang. Ban đầu cứ ngỡ là đơn vị bạn đến một điểm phòng thủ khác, nhưng rõ ràng là họ đang đi về hướng Đơn Dương, nơi không có một cứ điểm quan trọng nào. Lúc đó, ở cương vị nhỏ nhoi của một SVSQ, chúng tôi chưa hề hay biết là Dalat đã bắt đầu di tản, và đơn vị đi đầu là Trường Võ Bị, chỉ huy trưởng là Thiếu tướng Thơ, cũng là tư lệnh đoàn di tản. Trong một cuộc hành quân bình thường, đơn vị trinh sát đi đầu bao giờ cũng hứng chịu nhiều nguy hiểm, nhưng trong một cuộc lui binh, hình như kết quả có thể được hiểu ngược lại. Vậy mà bây giờ ở đây hàng năm, vào mỗi dịp 30-4 về, khi nhắc lại biến cố Dalat di tản, báo chí lại thường hay trích dẫn bản tường thuật của đài BBC như thế này (trích nguyên văn): Ngày 28-3-75 lúc 10 giờ đêm, Dalat vừa mất. Lâm Đồng như ốc đảo giữa rừng. Đài BBC nói đến các hình ảnh đẹp của SVSQ Võ Bị Dalat. Họ đã làm trắc diện về đoạn hậu cho quân dân ở đây xuôi xuống... Nha Trang! Đoàn di tản này tương đối có kỷ luật và tổ chức chặt chẽ nhất. (LNV: Ngày 28-3 Dalat làm gì đã mất?). Đơn vị bị phân bố bọc hậu chính là Đại học CTCT chúng tôi. Đoàn di tản vẫn lũ lượt, vội vã nối đuôi nhau người và người như ngày hội, chỉ khác là mọi người ai cũng lộ vẻ hốt hoảng khóc la, trong đó gồm cả thành phần bán quân sự, hành chính và dân chúng. Chúng tôi chỉ biết đứng nhìn và ghì chặt tay súng, vẫn tiếp tục bảo vệ Dalat thân yêu và chờ lệnh.

SVSQ ba khóa 4, 5, 6 đang ngồi chờ lệnh rút quân

Khoảng 9 giờ sáng ngày 1-4, khi đại đội C thuộc tiểu đoàn 2 SVSQ chúng tôi đang trấn giữ kho xăng Tiểu khu, được lệnh về lại trường chuẩn bị lương khô, lên đường đi giữ an ninh lộ trình cách Trường khoảng ba, bốn cây số. Đại đội D sang thay thế. Tiểu đoàn 1 SVSQ khi đó đã nhận lãnh công tác phòng thủ phi trường. Khoảng 30 SVSQ tình nguyện vào toán trinh sát, tôi nhớ có Lê đức Ái, Phạm đình Bằng, Phạm đức Thọ, Phạm hữu Huê, Nguyễn quốc Ngữ... dưới quyền chỉ huy của NT1 đại úy Duyến, nguyên là trinh sát SĐ 5 mới đổi về Trường, phụ tá còn có hai NT 2 là trung úy Trần ngọc Hoàn và Đào quang Hưng, toán này trang bị mỗi SVSQ ngoài súng M16, và hai cấp số đạn, còn có 8 quả lựu đạn M26 và một quả M72 cũng như đạn chống chiến xa cho súng M79, không có máy truyền tin để liên lạc, mặc dù trường có một số máy truyền tin để huấn luyện SVSQ như RN/PRC 6 và 25, nhưng đã không được lệnh mang theo để sử dụng có lẽ vì lý do an ninh, đề phòng địch có thể xâm nhập tần số vô tuyến của ta hầu chận đánh dọc đường, đổi lại đoàn di tản đã gặp rất nhiều trở ngại nguy hiểm và sự liên lạc của cả đoàn hầu như tê liệt, mạnh ai nấy tiến về phía trước mà chạy, tất cả không được thông báo kế hoạch ra sao, ngay cả toán trinh sát cũng chỉ được lệnh ở lại sau chót để phòng thủ Trường Mẹ mà không biết thêm một kế hoạch nào khác. Lúc này thì tin tức rời trường đã gây nhốn nháo, mọi người lăng xăng sắp xếp cá nhân. Có người không chú trọng gì cả, ngoài mấy trăm lá thư tình, nhất định phải mang theo, đa số thì lo đốt thư, giấy tờ, hình ảnh cá nhân. Có người cẩn thận mang theo cả mấy thùng mì gói... Riêng tôi, nhìn quanh quẩn trong phòng mình, chẳng có gì đáng phải mang theo, ngoại trừ mấy bộ đồ đại lễ, worsted, jaspi, thấy tiêng tiếc nhưng chúng lại quá cồng kềnh so với cái ba lô nhỏ xíu. Trước khi rời khỏi phòng, tôi thuận tay giật mạnh tấm lịch tháng 4 đang treo trên tường rơi xuống đất, lúc đó có ai tưởng tượng nổi đó sẽ là tấm lịch cuối cùng của VNCH đâu. Còn một chút thì giờ, tôi đi rảo thật nhanh một vòng Trường Mẹ, này Văn Khang, nơi giải trí mỗi đêm sau giờ văn hóa tự học, này giảng đường Nhị Khê những trưa gật gù ngáy ngủ, những vọng gác ven vòng đai Trường Mẹ vẫn im lìm cùng kỷ niệm những đêm lạnh sương mù cao nguyên dầy đặc, và phòng tiếp tân với những chiều thứ sáu nhộn nhịp, quấn quít cùng những tà áo dài xanh, trắng - sau màn trình khám căng thẳng vừa trải qua, rồi lại đến thư viện, phạn xá, vũ đình trường...nơi nào cũng vẫn như còn đầy ắp biết bao kỷ niệm. Tôi lại đi vòng lên khu phòng ngủ của hệ thống tự chỉ huy Liên đoàn SVSQ, trên bàn học có vài thanh kiếm cắm phập xuống những mảnh giấy viết vội gởi những người sẽ tiếp thu. Tất cả, để nuối tiếc chăng, hay để gì gì nữa - thật ra lúc ấy tôi không nhớ rõ lắm, chỉ biết rằng rồi đây tôi sẽ không bao giờ được đặt chân lên chỗ đất mà tôi vừa đạp lên, chỗ mà mồ hôi của tôi và bạn bè đã từng đổ xuống rất nhiều, và đã thấm sâu vào đó, lẫn với hơi sương năm tháng Dalat, đều nhịp theo những bước hùng ca:

Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu. Cố lên, cố lên, dù nhọc nhằn...

Vào khoảng 4 giờ chiều, khi mọi sự phân nhiệm đã xong, Bộ chỉ huy cũng vừa kết thúc buổi họp cuối cùng nơi Trường Mẹ. Tôi chụp vội vài tấm hình lúc SVSQ ba khóa 4, 5, 6 đang ngồi chờ lệnh rút quân. Tôi có ngờ đâu những tấm hình duy nhất trong phút giây ngắn ngủi đó nay đã đương nhiên đi vào lịch sử Trường Mẹ, là gia tài quí giá của những người như chúng tôi, bao giờ cũng trân quí kỷ niệm hào hùng một thời trai trẻ. Rồi lệnh chuyển quân bắt đầu cho các đơn vị còn hiện diện tại trường. Lên đường, không còn kịp thì giờ để lưu luyến gì nữa, mọi người nhanh chóng ba lô lên vai, súng ống cầm tay, điểm danh lần chót, thi hành! Trời Dalat buổi chiều đổ xuống thấp nhưng có lẽ lúc này không ai còn nghe cái cảm giác lành lạnh quen thuộc hàng ngày, bởi xúc động căm hờn hay vì hơi nóng từ những đêm cháy bốc cao khắp nơi trong thị xã, nhất là những tiếng nổ rất lớn văng tung loảng xoảng từ trường Võ Bị, mấy giờ trước đó sau khi trường này đã rút toàn bộ, chính trung úy Ngô L. trưởng khoa chất nổ đã nhận từ tay vị chỉ huy trưởng toàn bộ xâu chìa khóa của nhà thí nghiệm nặng, thư viện và những nơi quan yếu với khẩu lệnh: phá hủy toàn bộ. Nghe nói nhà thí nghiệm nặng vì xây dựng quá kiên cố nên chỉ hư hại một phần mà thôi. Riêng toàn bộ cơ sở của hai đồi 4648 (gần trường Bùi thị Xuân) và đồi 4650 (Chi Lăng) của ĐHCTCT, vì không có những kiến thiết hay tài sản quan trọng nào nên vẫn còn y nguyên không bị phá hủy, ngoại trừ những tài liệu, văn kiện quân sự mật.

Đoàn di tản lần lượt chạy ngang qua bệnh viện Tiểu khu, rẽ trái về hướng Đơn Dương. Đêm 1 tháng 4 có lẽ là đêm dài nhất trong đời binh nghiệp ngắn ngủi của chúng tôi - đêm bắt đầu cho trọn một tháng tư tăm tối, bắt đầu cho những hệ lụy triền miên hằng mấy chục năm sau. Đó là đêm lịch sử. Đêm đó, Thiếu tướng Phạm văn Phú thực sự đã không còn nắm quyền tư lệnh QK 2 và QK này đã mất tên trên bản đồ quân sự, (ngày 2-4, Thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu ra tận Nha Trang mang lệnh của Tổng Thống chính thức xóa tên QK 2), ông cũng không biết là những đơn vị dưới quyền ông, như chúng tôi hiện đang đi đâu, làm gì? Ông đang nằm lẻ loi dưới chân núi của ban chỉ huy một Tiểu đoàn ĐPQ thuộc TK Ninh Thuận, đơn vị này đang có nhiệm vụ phòng thủ Phan Rang. Cũng đêm đó, chuẩn tướng Phan đình Niệm cố dắt những đơn vị của ông là SĐ 22 lần mò di tản bằng đường biển, dù chưa thấy bóng dáng Cộng quân đâu cả. Còn chúng tôi, sau khi đại đội D phá hủy kho xăng để nhập vào đoàn, đại đội C là đơn vị giữ an ninh lộ trình đi bọc hậu, cùng với toán trinh sát cũng được lệnh rút lui với đội hình hàng dọc (toán này phải đi bộ rất nhiều giờ tới gần Đơn Dương, thấy một ngọn đồi đất đỏ, đó là căn cứ truyền tin, lúc này mới được GMC trở lại bốc) đi theo sau chiếc xe Jeep của Đại tá CHT, rồi đến xe của Trung tá Trần văn Thanh, Đại tá bao giờ cũng là người đi chót khi tất cả đã yên ổn theo đúng kế hoạch. Đoàn di tản của ĐHCTCT tổng cộng trên dưới 1200 người, kể cả số sĩ quan các khóa CTCT, gia đình binh sĩ cơ hữu và cả của trường Võ Bị về sau cũng xin nhập vào đoàn mà chỉ có không quá 15 chiếc GMC và trên dưới 10 chiếc xe Jeep của các sĩ quan cao cấp cùng một ít xe gắn máy cá nhân, tôi còn nhớ NT 1 đại úy Nguyễn mậu Lộc cưỡi cái Honda chạy lên chạy xuống để liên lạc. Khi đến trại Mít thì phải luân phiên bỏ SVSQ xuống đi bộ để quay trở lại đón tiếp, cứ thế đến suốt đêm, vì vậy nên nhịp độ di chuyển thật chậm chạp và nguy hiểm, cũng may lúc đó chưa thấy bóng dáng địch xuất hiện ngăn chận. Có lúc đoàn xe khựng lại vì bị dồn cục ở phía trước. Đèn pha rực sáng ầm ĩ, khói xăng mù mịt. Số SVSQ bị thả xuống để GMC đi rước thành phần khác của Trường đang len lỏi vượt qua đám đông vì có tin sau 12 giờ đêm đèo Song Pha sẽ bị giật sập. Càng về khuya, chúng tội lại càng bị bỏ xa lại đàng sau hơn. Từng toán nhỏ năm ba người bám víu nhau để không ai bị rớt lại một mình. Đêm, vắng lặng và lạnh, mồ hôi thấm ướt như đang dầm mưa từ lúc nào, thỉnh thoảng bắt gặp bên đường những củ cà rốt của dân chúng vừa thu hoạch vội, chúng tôi tạm dùng làm chất giải khát tuyệt vời. Tội nghiệp Từ văn Sang, được ưu ái giao cho nhiệm vụ vác khẩu đại liên M60, không mang theo được vật dụng cá nhân gì nhiều mà lại không dám rời khẩu súng cộng đồng nặng trịch này, hắn ta chỉ sợ nếu bỏ mất nó thì sẽ bị ra Trung sĩ. Mệt thì nằm dài xoải tay chân ra ngay giữa lộ, anh em khác phải xốc vác lên đi tiếp, rồi có lúc phải chạy vì cảm thấy đã bị bỏ quá xa, cứ thế lúc lên đồi, khi xuống đèo Ngoạn Mục, rồi lại đụng núi! Tôi còn nhớ rỏ, đến một lúc đuối sức quá, đâm lỳ, không còn sợ chết nữa, tôi giục Dương đức Tân mang mấy con khô mực mà Tân mới mang về từ Nha Trang trong chuyến đi phép sau cùng, có ai đó còn mang theo cả chai rượu đế, thế là chúng tôi nằm dài thoải mái xuống mặt đường, tận hưởng một chút cảm giác tuyệt diệu mong manh. Đàn em khóa 6 về tinh thần tuy có phần lo lắng hơn chúng tôi, nhưng về thể lực thì có vẻ bền bỉ lắm, vì mới trải qua thời gian tân khóa sinh, chỉ mới lên SVSQ có hai tuần lễ thôi. Khóa 5 thì xem ra cũng chưa tệ lắm. Với anh em khóa 4 chúng tôi, mặc dù đã làm quen với sáu tháng lặn lội ở chiến trường miền Tây, Đồng tháp Mười, U Minh Thượng, Tiền giang, Hậu giang... trong chiến dịch vừa qua, nhưng trong đêm nay những bước chân sao có vẽ nặng nề quá đỗi, bởi chúng tôi chính là những người đã có quá lâu, quá nhiều kỷ niệm với Trường Mẹ so với các khóa đàn em.

Suốt một đêm không ngủ vật vờ, sáng hôm sau chúng tôi lại tìm được một chút cảm giác dễ chịu khi được đứng trở lại trên GMC ngang qua quận Sông Pha, rồi sau đó đi ngang Tháp Chàm lại phải đổ quân từng toán, rồi trở lại rước gia đình binh sĩ, cứ thế liên tục, trước khi vào đến Phan Rang. Trong buổi trưa hôm đó, toán trinh sát được lệnh quay trở lại để đón các sĩ quan khóa sinh bị rớt lại. Chi khu Đơn Dương lúc này đã bỏ ngỏ, không còn một bóng người, một số trong chúng tôi vào kho quân tiếp vụ lấy một mớ thực phẩm khô để dự phòng. Khi chúng tôi tới Tháp Chàm thì nghe tin là trường Võ Bị và tiểu khu Tuyên Đức đã về đến Hàm Tân, họ có phương tiện nên nhanh chân hơn chúng tôi nhiều. Sau đó, số tập trung được tạm nghỉ dưỡng sức ở trường La Vang chuẩn bị tiến về Phan Thiết.

Khi đến Phan Rang, thành phố này đã thực sự mất kiểm soát, náo loạn khắp nơi. Đoàn xe chúng tôi đã thật khó khăn khi chen chúc vượt qua thị trấn này. Nhiều thường dân, binh sĩ xin theo đoàn không được, có người làm hoảng. Chính tại nơi đây, lần đầu tiên và có lẽ duy nhất trong đời cận vệ, trung úy Thạch minh Lợi đã có dịp thi thố khả năng của mình, khi Đại tá CHT suýt bị làm hỗn. Có một điều ai nấy cũng đều ngưỡng mộ người chỉ huy trưởng khả kính này, trong mọi thời điểm suốt những chặng đường dù nguy hiểm đến đâu, ông cũng vẫn theo sát cả đoàn để ban hành những khẩu lệnh kịp thời, kể cả những khi cùng lội bộ, bất chấp an ninh của cá nhân ông. Điều thú vị hơn, tình cờ chúng tôi nhận thấy đại úy trưởng khoa truyền tin Nguyễn thanh Châu mang lon thiếu tá mới tinh, hỏi ra thì mới hay ông mới được thăng chức đúng vào ngày 1 tháng 4, chiếc bông mai bạc mà ông đã mơ ước từ hơn mười năm nay. Theo toán trinh sát kể lại, khi họ đến Phan Rang trước cả đoàn di tản của trường, nghe ngóng tin tức thì đường Phan Thiết lúc đó còn đi được, nên tất cả được lệnh trưởng toán một lần nữa lại tự túc thuê xe be vào điểm hẹn ở nhà một người quen của đại úy Duyến ở gần bãi biển, một toán khoảng mười người vào được điểm hẹn lúc trời sập tối, được chủ nhà khoản đãi bữa cơm gà luộc thịnh soạn đầy ắp tình người. Sau đó thì có lệnh Tiểu khu Trưởng Phan Thiết cho bắn pháo, ngăn chận không để mọi thành phần di tản vào thành phố, do đó đoàn di tản phải quay ngược trở về Phan Rí, toán trinh sát không bắt tay được với Trường Mẹ, và kể như họ đã hoàn toàn chia tay với Trường Mẹ từ lúc đó. Một ngày sau, họ vào được Bình Tuy, chỉ có quân nhân mới được phép vào sau khi đã bị giải giới, bỏ lại từng đống súng ngổn ngang dọc hai bên đường. Trường Võ Bị đã có mặt ở đó từ lâu, riêng cả toán trinh sát của ĐHCTCT sau đó được đưa về Biên Hòa bằng phương tiện vận tải cơ C-130.

Trở lại với đoàn di tản, đã bước sang ngày thứ năm, chúng tôi ai nấy đều thấm mệt, có đêm hoàn toàn không chợp mắt hay kê lưng vì cứ phải chạy, có đêm may mắn nằm ở trường học nhắm mắt được chỉ đôi ba tiếng, tuy nhiên tinh thần thì rất vững, chấp hành kỷ luật quân trường tối đa, một phần vì tất cả cấp chỉ huy đều vẫn còn giữ kỷ cương, phẩm cách và sự gương mẫu của cán bộ quân trường, nên quyết tâm cùng sống chết với nhau. Ở Lương Sơn, Bộ chỉ huy Trường sau khi nhận định tình hình, để tránh thiệt hại nếu cứ tiếp tục dùng đường bộ, vì lúc này đường Phan Thiết đã mất an ninh và đã bị cấm cửa. Đại tá chỉ huy trưởng đã có một quyết định, mà cho đến giờ này sau gần 30 năm, khi già rồi - chúng tôi mới thấy rõ đó là một quyết định rất sáng suốt và nhạy bén của một cấp chỉ huy, biết tiết kiệm xương máu cho tất cả thuộc cấp. Ông đã ra lệnh, vẫn với cung cách cố hữu của con nhà nghèo: tất cả mọi người dốc hết tiền đang có để thuê ghe chở toàn bộ Trường Mẹ từ Phan Rí cửa về Vũng Tàu. Tiền đóng góp đã nhanh nhẹn được thu vào những chiếc nón sắt, nhất là với sự tự giác cao độ của người SVSQ trong những lúc khó khăn này.

11 giờ sáng ngày 8 tháng 4 năm 1975, (cũng là ngày Nguyễn thành Trung lái A-37 bắn phá dinh Độc Lập) chúng tôi về đến đất liền, đổ quân xuống bến Đá thuộc bãi Trước Vũng Tàu trước sự vây quanh của đồng bào hiếu kỳ và một số thân nhân cư ngụ tại đây ra chờ đón, mừng vui khôn xiết. Tôi lại nhấc máy, chụp mấy tấm hình kết thúc cuộc di tản với kết quả tốt đẹp vẹn toàn nhưng cũng mang lắm nỗi đau thương này. Thật là điều may mắn kỳ diệu, vì lúc đó Cộng quân chưa đủ khả năng để tập trung chận đánh chúng ta, dù chỉ là một chốt nhỏ thôi. Tôi còn nhớ trên nhật báo Chính Luận ngày hôm sau có chạy tin ngay trang nhất với hàng tít:

“Đại tá Nguyễn quốc Quỳnh mang toàn bộ Trường ĐHCTCT Dalat về đến Vũng Tàu bình yên...”

Thật là một kỳ công lớn: không để mất một vũ khí nào (trừ toán trinh sát bị bắt buộc giải giới ở Bình Tuy), toàn bộ nhân sự của Trường kể cả gia đình binh sĩ, cùng vợ con họ, ngoại trừ hai người: một trung sĩ thuộc LĐ/SVSQ bị rớt xuống biển tử nạn từ ghe đánh cá trên đường xuôi Nam. Và người thứ hai: Trung tá Nguyễn thanh Nhung, trưởng khối CTCT, ông đã quyết định ở lại cùng Dalat. Xin dành một vài hàng để nhân tiện, bạch hóa một vấn đề mà đã từ nhiều năm, vẫn thỉnh thoảng còn được bàn bạc nhắc đến với nhiều ý kiến khác nhau, dễ gây ngộ nhận. Chiều ngày 1-4, vì một lý do tế nhị nào đó, Trung tá N. không được mời tham dự buổi họp cuối cùng để thông báo quyết định về kế hoạch di tản. Khoảng trước 4 giờ chiều, trong lúc chuẩn bị lên đường, tôi chạy lên phòng trực LĐSVSQ gọi điện thoại sang tư gia ông, người bốc điện thoại là phu nhân của ông, trong thân tình người nhà, tôi hỏi:

“Sao, gia đình đã chuẩn bị để đi xong cả rồi hả chị?”

Tôi bắt được giọng thảng thốt ngay trong máy:

“Hả, em nói gì, đi đâu, đi đâu?”.

Tôi biết là chị chưa hay biết gì cả, nên vội cúp máy. Có ngờ đâu, tôi đã vĩnh viễn nợ chị một tiếng trả lời từ buổi đó, chị đã kiệt lực về tinh thần lẫn tật bệnh, đã nằm xuống chỉ vài ba năm sau khi ông N. đi tù, bỏ lại bốn cháu nhỏ bơ vơ thật tội nghiệp. Mãi khi đến Phan Rang, gặp trung úy Tâm ở khối CTCT, hỏi ra tôi mới biết ông N. đã không có mặt trong đoàn di tản. Rồi từ đó tôi bặt luôn tin tức về ông. Mãi đến khi ra tù, sau này có dịp thăm lại gia đình ông, được nghe kể lại từ mẹ ông, bà cụ tính đến hôm nay đã tròn 100 tuổi, vẫn còn sống tại Việt Nam. Tôi mới được biết là đúng buổi chiều 1-4, ông N. không có đi họp, nên ông không hay biết gì cho đến non một giờ trước khi đoàn di tản khởi động, khi đó ông mới hay tin di tản và ngỏ ý đòi lại chiếc xe Jeep mà ông đã cho người bạn Trưởng khối mượn sử dụng (vì nhà ông ở ngang bệnh viện Tiểu khu sát gần trường, ông đi bộ đến trường hàng ngày), lời yêu cầu đó không được đáp ứng, gia đình ông gần 20 người có cả bà cụ, đàn bà và trẻ nít. Ông rất lo ngại cho viễn ảnh thảm hại trên tỉnh lộ 7B vừa xảy ra, nên cuối cùng cả gia đình ông đành chấp nhận ở lại. Đêm đó, những tiếng nổ, tro bụi và lửa cháy từ kho xăng, kho đạn và từ trường Võ Bị khiến gạch đá văng tứ tung, mọi cơ sở chung quanh đều bị bể kiến hư hại nặng. Cả nhà ông quây quần cầu nguyện trong căn phòng phía trước nhà nơi dành thờ Phật, kỳ diệu thay chỉ duy nhất căn phòng này là còn an toàn nguyên vẹn, không bị hư hại gì cả. Khi đoàn di tản đã rời khỏi thành phố Dalat thì nhiều điều bất ổn bắt đầu xảy ra, tù hình sự tự động được tự do, trốn ra phố cướp bóc, kể cả dân chúng cũng chạy vào các cơ sở chính quyền để hôi của, nghe nói họ cũng có vào trường ĐHCTCT và đã có một vài thường dân bị thương. Ba ngày sau, thành phố trở nên tê liệt trong mọi sinh hoạt, và không còn ai có thẩm quyền điều hành điện, nước v.v... khiến thân hào nhân sĩ còn ở lại phải ra tận Nha Trang để mời chính quyền mới vào điều hành hoạt động thành phố. Lúc này, ông N. là sĩ quan chế độ cũ có cấp bậc cao nhất còn ở lại, nên dĩ nhiên ông bị đặc biệt chú ý và theo dõi, họ đưa ngay ông vào trường ĐHCTCT để bàn giao cơ sở Trường cho đại diện chính quyền mới là một thượng tá CS, rồi hôm sau đó ông bị xe bộ đội chở đi luôn cho đến 17 năm sau mới được thả về. Nếu ông “có công với CS” như vài tin đồn thì có lẽ ông đã không phải chịu nổi bất hạnh là người trở về sau cùng trong tất cả sĩ quan cao cấp của ĐHCTCT, sau cả vị chỉ huy trưởng của chúng ta. Tháng 7 năm 2001 vừa qua, cựu Trung tá Nguyễn thanh Nhung, nguyên Trưởng khối Khóa sinh đã một thời gần gũi với SVSQ các khóa, ở vào tuổi thất tuần, ông đã gác bỏ tất cả những gièm pha, eo xèo nhơn thế, quyết định khoác áo cà sa để tìm về chính niệm. Sống một mình trong căn apartment nhỏ hẹp ở một thành phố miền Đông Hoa kỳ với tương rau hàng ngày, âm thầm, không tiếp xúc với hầu hết mọi người, tuy nhiên ông cũng đã đặc biệt nhắn lời thăm hỏi những người có cùng một quá khứ cũ, đã một thời khắng khít bên nhau.

Một ngày sau khi về đến Vũng Tàu, tất cả SVSQ được đưa về hậu cứ Tiểu đoàn 30 CTCT ở Tam Hiệp (Biên Hòa), nơi đây vì phòng ốc quá chật chội, SVSQ được thay phiên nhau đi phép. Đêm 21-4, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu từ chức, sáng 22-4, khóa Nguyễn Trãi 4 chúng tôi mãn khóa theo lệnh của Bộ TTM để tiếp ứng chiến trường. Lễ mãn khóa thật đơn giản và vội vã như cơn hấp hối mong manh của miền Nam thân yêu đang chờ bủa chụp. Với quân phục tác chiến, quỳ xuống giữa sân cờ TĐ 30 CTCT chật hẹp, dưới sự chủ tọa của Trung tướng Trần văn Trung, Tổng cục trưởng TC/CTCT, 200 anh em được chọn về những binh chủng Dù, TQLC, BĐQ, Liên đoàn 81 Biệt cách và tất cả các Sư đoàn còn đang hoạt động. Phạm hữu Huê về TQLC là người nếm mùi thương tích đầu tiên, tuy không nặng lắm. Sang ngày 25-4, chúng tôi hẹn tập trung tại Tiểu đoàn 50 CTCT ở Phan đình Phùng để từng tân thiếu úy trong binh phục đơn vị của mình trước khi ra chiến trường bắt tay từ biệt người chỉ huy trưởng kính mến đã tận tụy lo lắng cho chúng tôi từ lúc chập chững chạy chào trường cho đến những ngày di tản gian khổ vừa qua. Đó là lần sau cùng khóa 4 chúng tôi gặp nhau, bàn giao trách nhiệm tinh thần lại cho hai khóa đàn em 5, 6. Cũng như những niên trưởng khác khi đã ra trường, kể từ giây phút đó, chúng tôi chỉ còn lại cái địa chỉ duy nhất để gìn giữ đó là mật khẩu 4648, để tìm nhau và nhận ra nhau, thương yêu và dắt dìu nhau từ khắp các phương trời bốn bể, mãi đến sau này.

Sau đó, vì tình hình quân sự QK 3 đã trở nên quá xấu, Cộng quân đang tiến sát vòng đai Sài gòn Biên Hàa, trường ĐHCTCT được lệnh di chuyển về Sài gòn. Ngày 27-4, một số SVSQ khóa 5, 6 đang đi phép, số còn lại trong doanh trại TĐ 30 CTCT khoảng 60, 70 người, đại úy Nguyễn mạnh Vỹ nhận được lệnh, chờ Đại tá CHT xin phương tiện GMC để chở số SVSQ còn đang trong trại và toàn bộ vũ khí, quân trang của trường về TĐ 50 CTCT. Ngày 28-4, trên đường đi đến ga Bình Triệu, đoàn xe bị quân cảnh chận lại không cho vào, là do Biệt khu Thủ đô nghiêm cấm tất cả các đơn vị quân đội vào thủ đô Sài gòn trong lúc này. Đại úy Vỹ phải dùng máy liên lạc về Tổng cục CTCT và đã được Trung tướng Trần văn Trung can thiệp để trường ĐHCTCT được vào Sài gòn. Đến ngày 29-4, SVSQ được lệnh canh giữ cơ sở MACV của người Hoa Kỳ vừa ra đi bỏ lại, được một buổi thì tình hình dân chúng vào hôi của quá hỗn độn, chờ quân cảnh đến để can thiệp mà chẳng thấy ai cả, cuối cùng, Đại tá CHT ra lệnh bỏ ngỏ MACV. Lúc này ngoài SVSQ đang đi phép, thành phần còn lại vẫn nghiêm chỉnh chấp hành lệnh canh gác, trong số sĩ quan của Trường chỉ còn lại Đại úy Đào ngọc Tố, Nguyễn mậu Lộc, Nguyễn mạnh Vỹ và thiếu tá Nguyễn văn Quế, khóa 19 VB nguyên Tiểu đoàn trưởng SVSQ, mới rời đơn từ tiểu khu Long Khánh chạy về đây.

Sáng sớm ngày 30 tháng 4, Cộng quân pháo dồn dập vào xung quanh khu vực TĐ 50 CTCT, đài phát thanh Quốc Gia, NT1 Nguyễn mậu Lộc bị thương trong vai ở giờ thứ 25! Lại có thêm hai NT1 Quách Dược Thanh và Nguyễn văn Sang vào, hỏi có gì cho SVSQ ăn sáng không? Đại tá CHT liền viết giấy tay cho người đem qua cục Tâm lý chiến xin khẩu phần lương khô của Trung Hoa Quốc Gia về. Đó là bửa điểm tâm cuối cùng của Trường Mẹ, đó là lần cuối cùng NT1 Quách Dược Thanh và Nguyễn văn Sang gặp lại anh em, về sau đó niên trưởng QDT bị bức tử ở trại Vườn Đào, còn niên trưởng NVS trốn trại tù CS bị bắn chết.

Khi mọi người vừa ăn sáng xong, lúc đó vào khoảng hơn 10 giờ sáng, bầu trời bỗng vần vũ mây đen trải cơn mưa tuy chỉ lớt phớt nhưng cũng đủ thấm và quặn đau từng con tim của mỗi người chiến sĩ cũng như toàn dân miền nam Tự Do. Sau lệnh buông súng đầu hàng của ông Dương văn Minh, Đại tá Chỉ huy trưởng qua vẻ mặt xúc động nhưng vẫn điềm tĩnh, chậm rãi ban khẩu lệnh đau đớn cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp 26 năm dài của ông với ban tham mưu:

“Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!”

Chỉ mấy tiếng đó thôi, tuy ngắn ngủi, khô khan của ông cũng đủ làm cho không khí đang tuyệt đối yên lặng - không gian như bật úa vỡ ra, tan tóc.

Cali, 1 tháng 4 năm 2002
NT4 SƠN THANH


Comments

Name:
E-mail
Homepage
Title:
BBCode:Web AddressEmail AddressBold TextItalic TextUnderlined TextQuoteCodeOpen ListList ItemClose List
Comment:



Code:* Code

 
< Trước